Đọc bức thư đoạt giải nhất quốc tế cuộc thi viết thư UPU

By WwwKimSonGiang

(Theo báo Dân trí) - Bức thư gửi đến đạo diễn Trương Nghệ Mưu của em Hồ Thị Hiếu Hiền hiện là học sinh lớp 7/9 Trường THCS Tây Sơn TP Đà Nẵng vừa đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế do Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) tổ chức.


Bức thư và nét chữ viết tay mềm mại của em Hồ Thị Hiếu Hiền.
 

Cô Phạm Thị Phong giáo viên giảng dạy môn Văn học ở trường của Hiếu Hiền nhận xét: "Khi đọc bức thư của Hiền với cái kết sâu lắng lay động lòng người khiến cho người đọc phải suy nghĩ tôi tin bức thư sẽ mang về những hồi âm tốt đẹp từ cuộc thi viết thư UPU".

Quả nhiên từ lối dẫn chuyện hồn nhiên trong sáng hóm hỉnh đến ước mong lay động lòng người của cô học trò Việt Nam đã thuyết phục ban giám khảo cuộc thi viết thư quốc tế UPU lần thứ 39. Bức thư đã mang về giải nhất cấp quốc tế đầu tiên cho Việt Nam sau 20 năm kể từ khi những bức thư hay nhất xuất sắc nhất của các em học sinh Việt Nam được gửi dự thi cấp quốc tế.


Em Hiếu Hiền và cô giáo dạy văn Phạm Thị Phong.

Dân trí xin trân trọng đăng tải giới thiệu đến bạn đọc toàn văn bức thư gửi đến đạo diễn Trương Nghệ Mưu của Hiếu Hiền:

Đạo diễn Trương Nghệ Mưu kính mến!

Khi gửi lá thư này đi cháu cứ mong từng ngày nó sớm đến được tay ông. Rồi cháu lại lo rằng khi nhìn thấy địa chỉ lạ hoắc: "Người gửi: Hồ Thị Hiếu Hiền - Việt Nam" không biết ông có giở thư ra đọc hay không? Ông ơi! Cháu mong ông bớt chút thì giờ vàng ngọc để lắng nghe tâm sự của cháu biết đâu ông sẽ thấy trong đó một điều gì lớn lao hơn tình cảm thông thường của người hâm mộ dành cho thần tượng.

Thưa ông cháu mới có ý định viết thư cho ông sau khi trường cháu phát động Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 39 về đề tài phòng chống căn bệnh AIDS. Để cho bài viết của mình có cơ sở thực tế cháu đã đi tìm hiểu một số đối tượng xem mọi người hiểu biết và phòng chống AIDS như thế nào.

Đầu tiên cháu hỏi bà bà cháu bảo: "Bà sống từng này tuổi đầu rồi mà chưa biết mặt mũi con "Ết" nó thế nào. Bà nghe nói nó ở trong người những kẻ sống buông thả chẳng ra gì. Cháu đừng đến gần họ kẻo con "Ết" nó dính vào người."  - Ôi bà cháu chẳng hiểu gì về AIDS cả ông nhỉ?

Khi nghe cháu hỏi cả bố mẹ cháu đều cho rằng: "AIDS là căn bệnh suy giảm hệ miễn dịch ở cơ thể người do vi rút HIV gây ra. Bệnh này rất nguy hiểm vì hiện chưa có thuốc chữa khỏi. Con phải tuyệt đối tránh xa các tệ nạn như nghiện hút tình dục bừa bãi thì mới bảo vệ được mình."  Mẹ cháu còn dặn đi dặn lại: "Nếu ở lớp có bạn nào bị nhiễm HIV thì con phải nói ngay để bố mẹ xin chuyển trường chuyển lớp cho con." - Bố mẹ cháu là công chức mà cũng còn kì thị với người có H đấy.

Cháu lại hỏi cả em cháu em quả quyết: "Lớp em thì chưa có bạn nào bị AIDS chứ nếu có em sẽ đeo khẩu trang hoặc nghỉ học ở nhà luôn." - Thật buồn cười em lại tưởng AIDS cũng giống H1N1.

Đi đường cháu có hỏi cô công nhân đang quét rác cô liền chỉ tay vào mấy cái vỏ ống tiêm nằm lăn lóc bên vệ đường: "Kia kìa vi-rút HIV chứa trong những ống tiêm đó cháu!" - Hiểu biết của cô công nhân cũng chưa thật đầy đủ phải không ông?

 Đến lúc vào nhà hàng ăn uống cháu lại gợi chuyện ông chủ. Ông ta nhanh nhảu: " Si-đa à? Cứ nhìn người nào ốm yếu đi đứng dặt dẹo trên người nổi nhiều mụn nhọt là đích thị rồi! Cháu đừng lo ông không bao giờ để cho họ vào ăn uống làm lây bệnh cho khách." - Trời thật tội nghiệp cho những ai không có H nhưng lại có vẻ bề ngoài giống như ông ấy tả. Ông ấy đâu biết rằng HIV không hề lây qua đường ăn uống hay giao tiếp thông thường và hiện nay chúng ta đang sống chung với AIDS.

Khi đến lớp cháu cũng trao đổi với các bạn nhưng nhiều bạn lại tỏ ra rất thờ ơ cho rằng việc phòng chống HIV/AIDS là việc của các cơ quan y tế lớp mình có ai bị AIDS đâu mà lo! -  Thái độ của các bạn cháu cứ bàng quan như thế chả trách mỗi ngày có tới một ngàn trẻ em dưới mười lăm tuổi bị nhiễm HIV.

Cháu còn điều tra thêm một số trường hợp nữa nhưng hầu hết ai cũng rất lơ là. Cháu thực sự lo ngại trước thực trạng này và muốn viết một bức thư kêu gọi mọi người hãy nâng cao nhận thức thay đổi hành vi để phòng chống được căn bệnh này. Thế nhưng đã mấy hôm nay cháu ngồi nghĩ mãi mà không biết viết thế nào đành gác bút ra xem ti vi. Lúc này trên kênh truyền hình đang chiếu bộ phim "Hoàng Kim Giáp" do ông đạo diễn. Bộ phim hay quá! Thảo nào cháu thấy người ta ca ngợi ông rất nhiều trên mạng. Bằng một loạt phim nổi tiếng thế giới như: Cao lương đỏ Phải sống Cúc Đậu Đèn lồng đỏ treo cao Thập diện mai phục Hoàng Kim Giáp... ông đã chinh phục được trái tim của tất cả mọi người.

Đột nhiên một ý nghĩ vụt lóe lên trong cháu: ước gì cháu cũng có tài làm phim như ông nhỉ? Cháu sẽ xây dựng ngay những tác phẩm điện ảnh thật hay về đề tài HIV/AIDS để thức tỉnh loài người. Ông ạ bộ phim đầu tay của cháu sẽ là câu chuyện đầy cảm động về một mối tình lãng mạn và bi ai: chàng và nàng yêu nhau tha thiết song cuối cùng vẫn không lấy được nhau chỉ vì một trong hai người có H. Tiếp đến là bộ phim có tên "Phải chết" cũng sẽ nổi tiếng không kém gì bộ phim "Phải sống" của ông. Qua phim cháu muốn gửi gắm một thông điệp: con người ta không muốn chết sớm mà phải chết vì không ngờ Thần Chết lại luôn phục sẵn trong các hành vi nguy cơ cao như tình dục không an toàn và sử dụng bơm kim tiêm chung... Hầu hết phim do cháu sản xuất đều lấy cảm hứng từ những cảnh đời rất thực và nhân vật chính là những nạn nhân đáng thương của AIDS. Đó là một vị công chức suốt đời phấn đấu giữ gìn thế mà chỉ một phút ham vui đã đánh mất đi tất cả. Một nhân viên y tế bao ngày làm việc nghiêm túc chỉ một chút lơ là đã vô tình lây nhiễm HIV. Một người lao động vất vả cả đời mới gây dựng nên một mái ấm gia đình nhưng đến cuối đời phải chết trong cô đơn ghẻ lạnh. Những thanh thiếu niên đang tràn trề nhựa sống một ngày kia lại trở nên thân tàn ma dại vì lỡ đua đòi hút chích dùng chung bơm kim tiêm với người có H. Có em bé thơ ngây đôi mắt trong veo nhưng cha mẹ em đã sớm qua đời vì AIDS còn em thì không biết lúc nào Thần Chết tới mang đi. Lại có cả những cô gái khi biết mình có H đã tính chuyện trả thù đời gieo rắc cái chết cho bao người khác.

Chao ơi bao nhiêu con người là bấy nhiêu số phận. Tất cả những yêu thương đau xót bạc bẽo dại khờ cùng những hiểu biết cặn kẽ về cách thức phòng tránh AIDS sẽ được cháu chuyển tải vào phim một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc. Cháu hi vọng với sức ám ảnh đặc biệt những bộ phim này sẽ vào trong đốt lửa lòng người xoa dịu nỗi đau xóa đi mặc cảm và thức tỉnh lương tri của những người còn thờ ơ trước căn bệnh này.

Nhưng ông ạ cháu thì "lực bất tòng tâm" cháu nghĩ chỉ có ông mới có thể giúp cháu biến những ước mơ này thành hiện thực để cứu lấy nhân loại. Vì vậy cháu rất mong được ông lắng nghe và thấu hiểu!        

Kính thư! Hồ Thị Hiếu Hiền (Lớp 6/9 trường THCS Tây Sơn Quận Hải Châu TP. Đà Nẵng) 

More...

Giải thích câu tục ngữ! "Gần mực thì đen gần đèn thì sáng"

By WwwKimSonGiang

Từ lâu nhân dân ta đã rút ra kết luận đúng đắn là môi trường xã hội mà mình đang sống đặc biệt là mối quan hệ bạn bè có một tác dụng quan trọng đối với nhân cách đạo đức của mỗi người. Kết luận ấy được đúc kết lại thành câu tục ngữ:" Gần mực thì đen gần đèn thì sáng" Câu tục ngữ có giúp ích gì cho chúng ta trong cuộc sống hôm nay?

 Để nêu lên một bài học một kinh nghiệm trong cuộc sống ông cha ta thường mượn hình ảnh sự vật có liên quan đến con người để thể hiện ý của mình. Mực có màu đen nếu ta tiếp xúc sử dụng không khéo léo sẽ dễ dàng bị vấy bẩn. Mực tượng trưng cho những cái xấu xa những điều không tốt đẹp. Còn đèn là vật phát ra ánh sáng soi tỏ mọi vật xung quanh. Đến gần đèn ta được soi sáng. Đèn tượng trưng cho những cái tốt đẹp sáng sủa. Từ hai hình ảnh tương phản nhau " mực" và " đèn" câu tục ngữ nhằm nhắc nhở chúng ta : Nếu giao du với những người xấu ta se tiêm nhiễm thói hư tật xấu; ngược lại nếu ta quan hệ với người tốt ta sẽ được ảnh hưởng tốt sẽ học tập được những đức tính của bạn.

Câu tục ngữ là bài học kinh nghiệm của người xưa được đúc kết từ cuộc sống. Nó thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa môi trường xã hội vơi việc hình thành nhân cách con người.

Ở gia đình cha mẹ anh chị là tấm gương để cho đứa trẻ bắt chước. Nếu gia đình hòa thuận cha mẹ là tấm gương sáng về học tập về đạo đức thì gia đình đó sẽ có những đứa con ngoan. Trong khu xóm cũng vậy nếu cả tập thể đều biết chấp hành tốt những quy định chung về nếp sống văn minh đô thị biết giáo dục con cái tốt thì con em trong khu phố đó sẽ có một cuộc sống nền nếp đạo đức tốt. Gần gũi với chúng ta nhất là việc giao du với bạn bè trong trường trong lớp nếu ta quan hệ được với nhiều bạn tốt chăm ngoan học giỏi nói năng lễ độ biết kính trên nhường dưới... thì chúng ta sẽ học tập được những đức tính tốt ấy và trở nên người tốt.

Ngược lại trong gia đình nếu cha mẹ chỉ biết lo làm ăn không quan tâm đến con cái vợ chồng luôn luôn bất hòa thì chắc chắn những đứa trẻ lớn lên trong môi trường đó sẽ nhanh chóng trở thành đứa con hư. Ngoài xã hội khi tiếp xúc gần gũi với môi trường không tốt đẹp con người dễ dàng tập nhiễm những thói hư tật xấu và dần dần đánh mất bản chất lương thiện của mình. Cụ thể ở môi trường học tập quanh ta có biết bao nhiêu bạn xấu thường xuyên trốn học quậy phá học yếu làm phiền lòng thầy cô. Nếu ta cứ lân la gắn bó với những bạn ấu ấy thì sớm muộn gì ta cũng bị ảnh hưởng lây. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam nhân dân ta có nhiều câu ca dao mang nội dung giáo dục về vấn đề này:

" Thói thường gần mực thì đen

Anh em bạn hữu phải nên chọn người"

Tuy nhiên không phải ai cũng dễ dàng bị lôi kéo bởi môi trường xấu xa. Vẫn có những cánh sen vươn lên từ bùn lầy nước đọng dù xung quanh hôi hám sen vẫn nở đẹp và tỏa ngát hương thơm. Thực tế vẫn có những người sống trong môi trường không tốt đẹp không thuận lợi mà vẫn giữ mình không sa ngã. Môi trường càng xấu xa thì phẩm chất của con người càng tuyệt vời đáng khâm phục. Anh Nguyễn Văn Trỗi người thợ điện ở thành phố Sài Gòn hoa lệ vẫn không chút mảy may xao động bởi cuộc sống hào nhoáng những thủ đọan lọc lừa xảo trá. Anh chọn cho mình con đường Cách mạng chấp nhận chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng mà mình theo đuổi... Tấm gương của anh và biết bao gương sáng khác đã trở thành bài học cho bao thế hệ cháu con học tập.

Ngày nay trong xu thế cả nước tiến lên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa vẫn có những con người không giữ vững bản chất tốt đẹp của mình. Giữa cuộc sống tốt đẹp giữa môi trường thân thiện họ vẫn biến chất thoái hoa sống ăn chơi sa đọa trên những đồng tiền bất chính những đồng tiền mồ hôi xương máu của nhân dân đóng góp... Những con người đó chính là những " con sâu làm rầu nồi canh" là thứ ung nhọt của xã hội mà chúng ta có nhiệm vụ phải loại trừ.

Có thể nói câu tục ngữ trên là một lời khuyên bảo sâu sắc giúp em bài học bổ ích một cách nhìn đúng đắn về mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách của bản thân. Câu tục ngữ giúp em có tinh thần cảnh giác trong việc giao du tiếp xúc với bạn bè đồng thời xác định cho mình một thế đứng vững vàng trước những tác động tiêu cực của môi trường xung quanh để luôn luôn " gần mực" mà vẫn không " đen" và " gần đèn" để luôn tỏa sáng.
Nguồn Lê Bá Duy

More...

Phân tích "Làng" - Kim Lân

By WwwKimSonGiang

Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921 quê ở Hà Bắc. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. Là nhà văn am hiểu sâu sắc gắn bó với nông dân và nông thôn Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. Truyện ngắn "Làng" là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân đc viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương yêu làng sâu sắc của ông. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp.
Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà tha thiết yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Kể về làng chợ Dầu ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát sầm uất đường trong làng lát toàn bằng đá xanh trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng không có lấy một hạt thóc đất. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. Ông tự hào vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo có bề dày lịch sử. Nhưng khi cách mạng thành công nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Và từ đó mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông còn khoe cả những hố những ụ những hào ... lắm công trình không để đâu hết. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng ông buộc phải xa làng. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Vì vậy nên lúc tản cư ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. Quả thật cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Tự hào và yêu nơi " chôn rau cắt rốn" của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản nhỏ : cây đa giếng nướ sân đình... và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. Tới đây là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : "lòng yêu nhà yêu làng xóm yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ ". Những ngày ở làng Thắng ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. Cổ ông lão " nghẹn ắng lại da mặt tê rân rân" ông lão lặng đi tưởng như không thể thở được. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : "chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này". Cũng chình từ lúc ấy ông không dám đi đâu hết suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: "hay là quay về làng ?" nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : " làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù." Có thể nói với ông Hai làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. Nhưng trong đó tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. trong những ngày này nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Trò chuyện với cn như là để thanh minh cho làng mình. Ông hỏi con: "con ủng hộ ai?" Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: " Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm". Cái lòng của bố con ông là thế đấy "chết thì chết có bao giờ dám đơn sai" Thế rồi một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. Những nỗi lo âu xấu hổ tan biến. Thay vào đó là nỗi vui mừng sung sướng. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng hả hê: " bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính ông ấy cho biết... cái tin cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả" Qua lời khoe củ ông Hai điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Mọi đau khổ buồn tủi đã được rũ sạch. Quả thật Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai một trong những người dân bấy giờ đơn giản chất phác tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ kể cả những từ dung sai: "bác Thứ đâu rồi... Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả". bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đâu khổ tủi nhục và khi biết làng mình không theo giặc ông sung sướng thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng hả hê. Xây dựng được những chi tiết ấy miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình.
Truyện "Làng" là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân mọi người một lòng theo Bác theo Đảng khánh chiến đến cùng có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang.  

Dàn ý:

Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 - 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân
- Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948 trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc tình yêu nước thông qua một con người cụ thể người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
B- Thân bài
1. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc tình cảm quê hương đất nước. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.
2. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người nhân vật ông Hai. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.
a. Tình yêu làng một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai.
- Ông hay khoe làng đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê.
- Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.
b. Sau cách mạng đi theo kháng chiến ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.
- Được cách mạng giải phóng ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng ông nhớ quá cái khong khí "đào đường đắp ụ xẻ hào khuân đá..."; rồi ông lo "cái chòi gác ... những đường hầm bí mật ..." đã xong chưa?
- Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến thích bìh luận náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi "Cứ thế chỗ này giết một tí chỗ kia giết một tí cả súng cũng vậy hôm nay dăm khẩu ngày mai dăm khẩu tích tiểu thành đại làm gì mà thằng Tây không bước sớm".
c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.
- Khi mới nghe tin xấu đó ông sững sờ chưa tin. Nhưng khi người ta kể rành rọt không tin không được ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.
- Về đến nhà nhìn thấy các con càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó "cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi". Ông giận những người ở lại làng nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ "đổ đốn" ra thế. Nhưng cái tâm lí "không có lửa làm sao có khói" lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân.
- Ba bốn ngày sau ông không dám ra ngoài. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.
- Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: "Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù". Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.
- Tình cảm đối với kháng chiến đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:
+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: "ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!" nữa là ông bố của nó.
+ Ông mong "Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông".
+ Qua đó ta thấy rõ:
Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).
Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc chân thành. Tình cảm đó sâu nặng bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.
d. Khi cái tin kia được cải chính gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.
- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí "Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước" của người nông dân lao động bình thường.
- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.
3. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.
- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.
- Miêu tả rất cụ thể gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ hành vi ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.
Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.
C- Kết bài:
- Qua nhân vật ông Hai người đọc thấm thía tình yêu làng yêu nước rất mộc mạc chân thành mà vô cùng sâu nặng cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.
- Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.
Nguồn: Lê Bá Duy

More...

Phân tích tình cảm cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng

By WwwKimSonGiang

Có câu nói: "Những tình cảm đẹp sẽ là động lực mạnh mẽ trong tâm hồn mỗi người!"Vì lòng yêu cha một cô bé nhỏ mới tám tuổi nhưng nhất quyết không nhận người khác làm bố cho dù bị đánh. Vì lòng thương con một người chiến sỹ dù ở sa trường vẫn luôn cặm cụi làm một chiếc lược để tặng đứa con gái bé bỏng.Có người nhận xét rằng "tình phụ tử không thể ấm áp và đẹp đẽ như tình mẫu tử". Song nếu đọc truyện ngắn "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng có thể bạn sẽ phải có cái nhìn khác mới mẻ và chân thực hơn. Câu chuyện khắc họa hình ảnh một nhân vật bé Thu đầy ấn tượng và tinh tế hơn thế lại ca ngợi tình cha con thiêng liêng vĩnh cửu dù trong chiến tranh.

Nguyễn Quáng Sáng sinh năm 1933 ở An Giang.Thời kỳ kháng chiến chống Pháp ông tham gia bộ đội và hoạt động ở chiến trường Nam Bộ.Sau năm 1945 ông tập kết ra Bắc và bắt đầu viết vănn.Có lẽ vì sinh ra va hoạt động chủ yếu ở miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ.Các tác phẩm chính là Chiếc lược ngà(1968) Mùa gió chướng(1975) Dòng sông thơ ấu(1985) ...Nguyễn Quang Sáng có lỗi viết văn giản dị mộc mạc nhưng sâu sắc xoay quanh những câu truyện đời thường nhưng ý nghĩa.Chiếc lược ngà viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ chống Mỹ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng khẳng định nghệ thuật miêu tả tâm lý đặc sắc xây dựng tình huống bất ngờ và ca ngợi tình cha con thắm thiết.Vẫn viết về một đề tài dường như đã cũ song truyện mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc.

Câu truyện xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu.Khi ông Sáu đi kháng chiên chống Pháp lúc đó bé Thu chưa đầy một tuổi.Khi ông có dịp thăm nhà thì con gái đã lên 8 tuổi.Song bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như bức ảnh chụp chung với má.Trong ba ngày ở nhà ông Sáu dùng mọi cách để gần gũi nhưng con bé vẫn không chịu gọi một tiếng "Ba". Đến khi bé Thu nhận ra cha mình thì cũng là khi ông Sáu phải ra đi. Ông hứa sẽ mang về tặng con một cái lược ngà.Những ngày chiến đầu trong rứng ông cặm cụi làm chiếc lược cho con gái.Chiếc lược làm xong chưa kịp trao cho con gái thì ông đã hi sinh.Trước khi nhắm mắt ông chỉ kịp trao cây lược cho người bạn nhờ chuyển lại cho con mình.

Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện được tác giả khắc họa hết sức tinh tế và nhạy bén là một cô bé giàu cá tính bướng bỉnh và gan góc.Bé Thu gây ấn tượng cho người đọc về một cô bé dường như lì lợm đến ghê gớm khi mà trong mọi tình huống em cũng nhất quyết không gọi tiếng "Ba" hay khi hất cái trứng mà ông Sáu gắp cho xuống cuối cùng khi ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại.Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính của bé Thu nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách của bé dù là bị mẹ quơ đũa dọa đánh dù là bị dồn vào thế bí dù là bị ông Sáu đánh bé Thu luôn bộc lộ một con người kiên quyết mạng mẽ.Có người cho rằng tác giả đã xây dựng tính cách bé Thu hơi "thái quá" song thiết nghĩ chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện vô cùng đẹp đẽ mà đứa con dành cho người cha yêu quý.Trong tâm trí bé Thu chỉ có duy nhất hình ảnh của một người cha "chụp chung trong bức ảnh với má".Người cha ấy không giống ông Sáu không phải bởi thời gian đã làm ông Sáu già đi mà do cái thẹo trên má.Vết thẹo dấu tích của chiến tranh đã hằn sâu làm biến dạng khuôn mặt ông Sáu.Có lẽ trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh nó còn quá bé để có thể biết đến sự khốc liệt của bom lửa đạn biết đến cái cay xè của mùi thuốc súng và sự khắc nghiệt của cuộc sống người chiến sỹ.Cái cảm giác đó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh nhiễu sách mà là sự kiên định thẳng thắn có lập trường bền chặt bộc lộ phần nào đó tính cách cứng cỏi ngoan cường của cô gian liên giải phóng sau này.

Nhưng xét cho cùng cô bé ấy có bướng bỉnh gan góc tình cảm có sâu sắc mạnh mẽ thế nào thì Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ mới 8 tuổi với tất cả nét hồn nhiên ngây thơ của con trẻ.Nhà văn tỏ ra rất am hiểu tâm lý của trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng một cách đẹp đẽ thiêng liêng những tâm tư tình cảm vô giá ấy.Khi bị ba đánh bé Thu "cầm đũa gắp lại cái trứng cá để vào chén rồi lặng lẽ đứng dậy bước ra khỏi mâm".Có cảm giác bé Thu sợ ông Sáu sẽ nhìn thấy những giot nước mắt trong chính tâm tư của mình? Hay bé Thu dường như lờ mờ nhận ra mình có lỗi?Lại một loạt hành động tiếp theo "Xuống bến nó nhảy xuống xuồng mở lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rổn rang khua thật to rồi lấy dầm bơi qua sông".Bé Thu bỏ đi lúc bữa cơm nhưng lại có ý tạo tiếng động gây sự chú ý.Có lẽ co bé muốn mọi người trong nhà biết bé sắp đi mà chạy ra vỗ về dỗ dành.Có một sự đối lập trong những hành động của bé Thu giữa một bên là sự cứng cỏi già giặn hơn tuổi nhưng ở khía cạnh khác cô bé vẫn mong được yêu quý vỗ về.Song khi "Chiều đó mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không chịu về" cái cá tính cố chấp một cách trẻ con của bé Thu được tác giả khắc họa vừa gần gũi vừa tinh tế.Dù như thế thì bé Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi hồn nhiên dẫu có vẻ như cứng rắn và mạnh mẽ trước tuổi.

Ở đoạn cuối khi mà bé Thu nhận ra cha thật khó để phủ nhận bé Thu là đứa bé giàu tính cảm.Tình cha con trong Thu giữ gìn bấy lâu nay giờ trỗi dậy vào cái giây phút mà cha con phải tạm biệt nhau.Có ai ngờ một cô bé không được gặp cha từ năm 1 tuổi vẫn luôn vun đắp một tình yêu bền bỉ và mãnh liệt với cha mình dù người cha ấy chưa hề bồng bế nó cưng nựng nó săn sóc chăm lo cho nó làm cho nó một món đồ chơi kể từ khi nó bắt đầu làm quen với cuộc sống.Nó gần như chưa có chú ấn tượng nào về cha song chắc không ít lần nó đã tự tưởng tượng hình ảnh người cha nó tài giỏi nhường nào cao lớn nhường nào có vòng tay rộng để ôm nó vào lòng ra sao?Tình cảm mãnh liệt trong nó ngăn không cho nó nhận một người đàn ông lại kia làm bố.Khi đến ngày ông Sáu phải đi con bé cứng cỏi mạnh mẽ ngày hôm nào lại "như thể bị bỏ rơi" "lúc đứng ở góc nhà lúc đứng tựa cửa và cứ nìn mọi người vây quanh ba nó dường như nó thèm khát cái sự ấm áp của tình cảm gia đình nó cũng muốn chạy lại và ôm hôn cha nó lắm chứ nhưng lại có cái gì chặn ngang cổ họng nó làm nó cứ đứng nguyên ở ấy ước mong cha nó sẽ nhận ra sự có mặt của nó.Và rồi đến khi cha nó chào nó trước khi đi có cảm giác mọi tình cảm trong lòng bé Thu bỗng trào dâng.Nó không nén nổi tình cảm như trước đây nữa nó bỗng kêu hét lên "Ba..." "vừa kêu vừa chạy xô đến nhanh như một con sóc nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó" "Nó hôn ba nó cùng khắp.Nó hôn tóc hôn cổ hôn vai hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa".Tiếng kêu "Ba" từ sâu thẳm trái tim bé Thu tiếng gọi mà ba nó đã dùng mọi cách để ép nó gọi trong mấy ngày qua tiếng gọi ba gần gũi lần đầu tiên trong đời nó như thể nó là đứa trẻ mới bi bô tập nói tiếng gọi mà ba nó tha thiết được nghe một lần.Bao nhiêu mơ ước khao khát như muốn vỡ òa ra tring một tiếng gọi cha.Tiếng gọi ấy không chỉ khiến ba nó bật khóc mà còn mang một giá trị thiêng liêng với nó.Lần đầu tiên nó cảm nhận mơ hồ về niềm sung sướng của một đứa con có cha.Dường như bé Thu đã lớn lên trong đầu óc non nớt của nó.Ngòi bút nhà văn khẳng định một nhân vật giảu tình cảm có cá tính mạnh mẽ kiên quyết nhưng vẫn hồn nhiên ngây thơ:Nhân vật bé Thu.

Không chỉ khắc họa thành công nhân vật bé Thu truyện ngắn "Chiếc lược ngà" ca ngợi tình cha con sâu đậm mà đẹp đẽ.Bên cạnh hình ảnh bé Thu hình ảnh ông Sáu được giới thiệu là người lính chiến tranh vì nhiệm vụ cao cả mà phải tham gia chiến đấu bỏ lại gia đình quê hương;và đặc biệt ông là người yêu con tha thiết.Sau ngần ấy năm tham gia kháng chiến ông Sáu vẫn luôn nung nấu khao khát cháy bỏng là được gặp con và nghe con gọi một tiếng cha.Nhưng cái ngày gặp lại con thì lại nảy sinh một nỗi éo le là bé Thu không nhận cha. Ông Sáu càng muốn gần gũi thì dường như sự lạnh lùng bướng bỉnh của con bé làm tổn thương những tình cảm da diết nhất trong lòng ông.Còn gì đau đớn hơn một người cha giàu lòng thương con mà bị chính đứa con gái ấy từ chối.Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ làm bùng lên những tình cảm mà bấy lâu nay ông dồn nén chứa chất trong lòng.Có lẽ ông biết rằng mình cũng không đúng vì suốt bảy năm trời chẳng thể về thăm con chẳng làm gì được cho con nên nhân những ngày này ông muốn bù đắp cho con phần nào.Giá gì không có cái bi kịch ấy giá gì bé Thu nhận ra ông Sáu sớm hơn thì có thể ông Sáu và bé Thu sẽ có nhiều thời gian vui vẻ hạnh phúc.Nhưng sợ rằng một câu truyện như vậy sẽ chẳng thể gây được cảm động cho người đọc với những xúc cảm khác nhau có lúc dồn nén có lúc lại thương xót có lúc lại "mừng mừng tủi tủi" cho ông Sáu khi mà bé Thu cất tiếng gọi "Ba" tiếng gọi muộn màng nhưng lại có ý nghĩa đẹp đẽ! Ai có thể ngờ được một người lính dạn dày nơi chiến trường quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng yếu mền trước con gái mình.Những giọt nước mắt hiếm hoi của một cuộc đời từng trải nhiều gian khổ vất vả song lại rơi khi lần đầu tiên ông cảm nhận được sự ấm áp của cha con thực sự!("Không ghìm được xúc động và không muôn cho con thấy mình khóc anh Sáu một tày ôm con một tay rút khăn lau nước mắt")."Ba về!Ba mua cho con một cây lược nghe ba!" đó là mong ước đơn sơ của con gái bé bỏng trong giây pút cha con từ biệt.Nhưng đối với người cha thì đó là mơ ước đầu tiên và duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng ông.Tình cảm ông Sáu dành cho bé Thu trở nên thiêng liêng cao cả và mãnh liệt hơn biết bao khi ông tự tay làm chiếc lược ngà cho con."Khi ông Sáu tùm được khúc ngà sung sướng như trẻ con vớ được quà" " Ông thận trọng tỉ mỉ..." "Ông gò lưng khắc từng nét..."Một loạt hành động cảm động như khẳng định tình cha con sâu đậm.Tất cả tình yêu nỗi nhớ con dồn cả vào công việc làm chiếc lược ấy. Ông nâng niu chiếc lược như nâng niu đứa con bé nhỏ của mình.Lòng yêu con đã biến một người chiến sỹ trở thành một nghệ nhân sáng tạo tài tình dù chỉ sáng tạo môt tác phẩm duy nhất trong đời.Cuối truyện có chi tiết ông Sáu đưa tay vào túi móc lấy cây lược đưa cho bác Ba và nhìn một hồi lâu. Ông Sáu hi sinh mà không kịp trăn trối điều gì chỉ có một ánh mắt với niềm ước nguyện cháy bỏng mong người bạn của mình sẽ là người thực hiện nốt lời hứa duy nhất của mình với con.Tình cảm của ông sáu khiến người ta phải thấy ấm lòng và cảm động sâu sắc.

Người mất người còn nhưng kỷ vật duy nhất gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại chiếc lược ngà vẫn còn ở đây.Chiếc lược ngà là kết tinh tình phụ tử mộc mạc đơn sơ mà đằm thắm kỳ diệu là hiện hữu của tình cha con bất tử giữa ông Sáu và bé Thu;và là minh chứng chứng kiến lòng yêu thương vô bờ bến của ông Sáu với con.Có thể chiếc lược ấy chưa chải đượcmais tóc của bé Thu nhưng lại gỡ rối được tâm trạng của ông. Chiếc lược ngà xuất hiện đánh dấu một kết cấu vòng tròn cho câu chuyện và cũng là bài ca đẹp tồn tại vĩnh cửu của tình cha con. (Nhan đề của chuyện cũng là "Chiếc lược ngà"!)

Cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập là những người đã khuất là tổ ấm gia đình không còn trọn vẹn.(Người đọc có thể bắt gặp tình huống này một lần nữa ở truyện "Chuyện người con gái Nam Xương"). Đó thật sự là tội ác những đau thương mất mát mà chiến tranh tàn bạo đã gây ra.Chính chiến tranh đã làm cho con người phải xa nhau chiến tranh làm khuôn mặt ông Sáu biến dạng chiến tranh khiến cuộc gặp gỡ của hai cha con vô cùng éo le bị thử thác rồi một lần nữa chiến tranh lại khắc nghiệt để ông Sáu chưa kịp trao chiếc lược ngà đến tận tay cho con mà đã phải hi sinh trên chiến trường.Câu chuyện như một lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa gây đổ máu vô ích làm nhà nhà li tán người người xa nhau vĩnh viễn.Song cái chúng ta thấy lại không có sự bi lụy ma là sức mạnh lòng căm thù đã biến Thu trở thành một cô giao liên dũng cảm mạnh mẽ đã gắn bó với cuộc đời con người mất mát xích lại gần nhau để cung đứng lên hát tiếp bài ca chiến thắng

"Chiếc lược ngà" như một câu chuyện cổ tích hiện đại thành công trong việc xây dựng hình thượng bé Thu và gửi gắm thông điệp đẹp về tình cha con.Nhân vật ông Ba-người kể chuyện hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng phải là người từng trải sống hết minh vì cách mạng kháng chiến của quê hương gắn bó máu thịt với những con người giàu tình yêu nhân hậu mà rất kiên cường bất khuất nha văn mới có thể nhập hồn được vào các nhân vật sáng tạo nhiều hình tượng với các chi tiết sinh động bất ngờ hơn nữa lại có giọng văn dung di cảm động!

Chiến tranh là hiện thực đau xót của nhân loại nhưng từ chính trong gian khổ khốc liệt có những thứ tình cảm đẹp vẫn nảy nở: tình đồng chí tình yêu đôi lứa tình cảm gia đình và cả tình của một người cha với con gái.Truyện ngắn "Chiếc lược ngà" là một áng văn bất hủ ca ngợi tình phụ tử giản dị mà thiêng liêng với những con người giàu tình cảm và đẹp đẽ như nhân vật bé Thu.

Nguồn: Lê Bá Duy

More...

Đề cương ôn tập môn ngữ văn lớp 6 7 8 9

By WwwKimSonGiang

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN VĂN HK II

1) MÔN VĂN 9 :

I/PHẦN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN: Nội dung đọc hiểu tác phẩm văn học trong ngữ văn 9 tập 2 tập trung vào các thể loại văn học sau đây:
-Văn nghị luận: Học một số tác phẩm về nghị luận chính trị - xã hội và nghị luận văn học như "Tiếng nói của văn nghệ" (Nguyễn Đình Thi) "Bàn về đọc sách" "Chó sói và cừu" trong thơ ngụ ngôn của Laphôngten...
-Thơ hiện đại: Học các bài thơ sau cách mạng Tháng 8/1945 như: "Con cò" " Mùa xuân nho nhỏ" "Viếng lăng Bác" "Sang thu" "Nói với con" bên cạnh đó còn có bài "Mây và sóng" của Tago.
-Truyện hiện đại: Học các tác phẩm như: "Bến quê" "Những ngôi sao xa xôi". Phần truyện nước ngồi học các đoạn trích ở các tác phẩm "Rôbinson..." " Bố của Ximông" "Con chó Bấc".
-Kịch hiện đại học đoạn kịch "Bắc Sơn" "Tôi và chúng ta".

II/PHẦN TIẾNG VIỆT:
Phần Tiếng Việt trong ngữ văn 9 tập 2 tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
-Khởi ngữ các thành phần biệt lập liên kết câu và liên kết đoạn văn nghĩa tường minh và hàm ý.
-Ôn tập phần Tiếng Việt trong ngữ văn 9 tổng kết về ngữ pháp trong cả cấp THCS.
-Thực hành làm các bài tập cuối mỗi bài SGK kì 2 lớp 9 trang 8 19 43 44 ...
-Viết các đoạn văn sử dụng các phép liên kết câu.

III/PHẦN TẬP LÀM VĂN:
Phần tập làm văn trong ngữ văn 9 tập 2 tập trung chủ yếu vào văn nghị luận:
-Nghị luận xã hội (Nghị luận về sự vật hiện tượng đời sống hoặc về một vấn đề tư tưởng đạo lý).
-Nghị luận văn học (Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) hoặc về một đoạn thơ bài thơ).
-Thực hành: Làm các đề trong SGK trang 33 34 51 52 75 76 91 92 99....

2)MÔN VĂN 8 :

I.Phần văn:
1.Học thuộc lòng các bài thơ:
-Nhớ rừng- Thế Lữ
-Ông đồ- Tế Hanh
-Khi con tu hú-Tố Hữu
-Tức cảnh Pác Bó- Hồ Chí Minh
-Ngắm trăng-Hồ Chí Minh
Yêu cầu:
-Nắm được tên tác giả hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
-Phương thức biểu đạt
-Nội dung nghệ thuật
3. Các văn bản nghị luận:
- Chiếu dời đô-Lí Công Uẩn
- Hịch tướng sĩ-Trần Quốc Tuấn
- Nước Đại Việt ta-Lí Thường Kiệt
- Bàn luận về phép học-Nguyễn Thiếp
Yêu cầu:
-Tên tác giả hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
-Nắm vững đặc điểm của từng thể loại
-Nội dung nghệ thuật
II.Phần tiếng việt:
1.Nắm vững các kiểu câu đã học
2.Hành động nói
3.Hội thoại
4.Lựa chọn trật tự từ trong câu
5.- Làm bài tập SGK sau mỗi bài học
- Biết vận dụng các kiến thức đã học khi viết bài tập làm văn và khi đọc hiểu các văn bản ở phần văn cũng như trong giao tiếp hàng ngày.

III.Phần tập làm văn:
1.Văn nghị luận:
-Nắm được đặc điểm của văn nghị luận: Bố cục cách trình bày luận điểm luận cứ
-Nhận diện được các yếu tố tự sự miêu tả biểu cảm và tác dụng của chúng trong văn bản nghị luận. Biết cách làm một bài văn nghị luận kết hợp các yếu tố tự sự miêu tả và biểu cảm.
2.Các đề ứng dụng: các đề bài SGK thuộc các đề tài
-Tệ nạn xã hội
-Trang phục văn hoá
-Học tập
-Tham quan du lịch
-Lợi ích của rừng đối với đời sống con người và môi trường
-Các văn bản nghị luận
3.Văn bản hành chính:
Biết cách làm văn bản tường trình và thông báo nhận ra các lỗi và biết cách sửa lỗi thường gặp ở loại văn bản này.

3) MÔN VĂN 7 :

I-Phần Tiếng Việt:
1-Nắm được khái niệm tác dụng cách dùng câu rút gọn và câu đặc biệt.
2-Nêu vai trị ý nghĩa và cơng dụng của trạng ngữ. Theo em cĩ mấy loại trạng ngữ? Mỗi loại lấy 1 ví dụ.
3-Thế nào là câu chủ động? Câu bị động? Nêu mục đích cách chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (và ngược lại). Cho ví dụ.
4-Thế nào là dùng cụm chủ vị để mở rộng câu. Nêu các trường hợp dùng cụm chủ vị để mở rộng câu.
5-Liệt kê là gì? Có mấy kiểu liệt kê? Cho ví dụ.
6-Nêu công dụng của dấu chấm lửng dấu chấm phẩy.
7-Biết đặt câu viết đoạn văn và nhận diện các kiểu câu trên trong đoạn văn thơ.

II-Phần văn học:
1-Cho biết tên tác giả thể loại phương thức biểu đạt chính và giá trị nội dung giá trị nghệ thuật của các văn bản:
+ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
+ Sống chết mặc bay.
+ Sự giàu đẹp của Tiếng Việt .
+ Những trị lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu.
+ Đức tính giản dị của Bác Hồ.
+ Ca Huế trên sông Hương.
+ Ý nghĩa văn chương.


III-Tập làm văn:
1 - Thể loại văn chứng minh:
a - Chứng minh câu tục ngữ:
+ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
+ Cĩ cơng mài sắt cĩ ngày nên kim.
b - Ít lâu nay cĩ một số bạn trong lớp cĩ phần lơ là học tập. Em hãy viết một bài văn để thuyết phục bạn: Nếu khi cịn trẻ ta khơng chịu khĩ học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì cĩ ích!

2-Thể loại văn giải thích:
a-Giải thích nội dung ý nghĩa của câu ca dao:
" Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng"
b-Giải thích nội dung lời khuyên của Lê- nin: " Học học nữa học mãi."
c-Giải thích câu tục ngữ: "Đi một ngày đàng học một sàng khơn."


4) MÔN VĂN 6 :

I) Những nội dung cơ bản cần ôn tập
1-Về phần văn học.
-Nắm vững tên tác giả nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm truyện ký đã học trong phần văn học hiện đại Việt Nam như sau:
+ Bài học đường đời đầu tiên Sông nước Cà Mau Bức tranh của em gái tôi Vượt thác Cô Tô Tre Việt Nam.
-Nêu nội dung và ý nghĩa của các văn bản nhật dụng:
+ Cầu Long Biên nhân chứng lịch sử Động Phong Nha.
+ Những bài thơ cĩ yếu tố miêu tả tự sự: Đêm nay Bác khơng ngủ Lượm.
-So sánh điểm giống và khác nhau giữa các thể loại truyện và ký .

2- Về Tiếng Việt.
a- Nắm vững kiến thức về :
+ Các thành phần chính của câu. Cấu tạo của các thành phần chính.
+ Câu trần thuật đơn có từ là và không có từ là.
+ Các biện pháp tu từ: So sánh nhân hóa ẩn dụ hóan dụ. Tác dụng của các biện pháp tu từ trên.
b- Biết vận dụng phần Tiếng Việt đã học trong việc cảm thụ phân tích văn học và khi viết tập làm văn.


3- Về phần Tập làm văn .
a- Nắm vững phần tìm hiểu chung về miêu tả cảnh tả người gồm các nội dung sau:
- Khái niệm chung. Mục đích tác dụng của miêu tả.
- Các thao tác làm bài văn miêu tả : Quan sát tưởng tượng so sánh và nhận xét ...
- Phương pháp và dàn bài chung của bài văn miêu tả cảnh tả người.
b- Biết cách làm một bài văn tả cảnh tả người cho các đề bài sau:
- Tả về một cảnh thiên nhiên đẹp ở quê hương em.
- Tả về một người thân của em (Ông bà ba mẹ anh chị em...)
- Tả về một người bạn của em .

II)Hướng ra đề kiểm tra.
1- Cần tích hợp các phân môn.
2- Kiểm tra kiến thức cơ bản tồn diện. Tránh học tủ học lệch.
3- Cấu trúc đề kiểm tra gồm hai phần:
+Phần trắc nghiệm chiếm 30% số điểm gồm kiến thức lý thuyết của ba phân môn.
+Phần tự luận chiếm 70 % số điểm gồm kiến thức và kỹ năng phân môn tập làm văn qua một bài văn...

More...

"Sang thu" của Hữu Thỉnh

By WwwKimSonGiang

Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. Tuy nhiên cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa - chớm thu. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật.

Chả thế mà bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi cũng khó đủ giấy mực rồi. Gọn nhẹ hơn chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi chắc cũng không xuể. Cho nên tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống một tiền đề nữa. Mà cùng Hữu Thỉnh bước ngay... Sang thu

Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi

Thu 1977
img_1000001726_0.jpg    

 Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. Kể từ nay hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa.

1. Từ cấu trúc ...


Trước tiên thử đi vào cấu trúc của thi phẩm.
Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Về bố cục ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ "dính" vào khổ kia chả chịu rành mạch gì cả. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi gió se sương chùng chình sông dềnh dàng chim vội vã nắng vẫn còn mưa đã vơi sấm bớt bất ngờ hàng cây đứng tuổi... chẳng dáng nét thu về thì hình sắc thu sang đấy thay đổi tinh vi đây đổi thay tinh tế. Ý đâu có khác gì nhau. Đến nỗi ngay cả "Sách giáo viên" hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng " bí" trong việc phân định . Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch vô tổ chức ? Không hẳn.
Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. Về cảnh vật khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Trong khi đó khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Như vậy ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa từ thấp đến cao từ hẹp đến rộng từ ngoài vào trong với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu... Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể !
Nhưng cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. Cùng với cảnh bao giờ cũng là tình dù đậm hay nhạt dù kín hay lộ. Tình trong cảnh cảnh trong tình. Cho nên đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây là tâm tư của thi sĩ. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (... Hình như thu đã về) là đến niềm say sưa ở khổ hai (...Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu) và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(... Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). Không chỉ có thế. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm là các cấp độ của mạch nghĩ. Khổ đầu : bất giác khổ hai : tri giác khổ ba : suy ngẫm. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. Rõ ràng từ khổ một đến khổ ba thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau :
 

 Thế đấy cấu trúc của thi phẩm này bề ngoài có vẻ "dính" nhưng bề sâu đâu phải là thiếu rành mạch. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi.

2. ... đến điệu tâm hồn


Cảm nhận tạo vật lúc sang thu đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. Vì thế thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Ví như bài Thu cảm tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác không đơn tuyến. Tôi cho rằng một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. Nhịp mạnh bao gồm những động thái sắc thái dương tính (mạnh nhanh nhiều...) : hương ổi phả - chim vội vã - vẫn còn bao nhiêu nắng... Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm chậm ít...) : sương chùng chình sông dềnh dàng mưa vơi dần... Lúc bất giác nhận ra hương ổi "phả" vào trong gió se thì cũng là lúc bắt gặp sương "chùng chình" qua ngõ. Chính lúc sông "dềnh dàng" là lúc chim "vội vã". Khi nắng "còn" cũng là khi mưa "vơi". Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh - nhẹ với hệ thống hưng - suy tiêu - trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa nhờ lối cảm ấy đã hiện ra không chỉ có biến thiên mà đây đó còn cả thế quân bình. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo. Trong thiên nhiên đã vậy. Trong cuộc đời cũng thế. Và tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Để ý một chút sẽ thấy rằng đến đây tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một say sưa tri giác như khổ hai mà lòng đã nặng hơn đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. Hệ thống các từ còn (-hết) vơi (-đầy) bớt (-thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét đúc kết chiêm nghiệm. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. Ba câu trên : nắng "vẫn còn" tức là đã giảm ; mưa "vơi dần" rõ là giảm ; sấm "bớt bất ngờ" càng giảm. Cả ba nghiêng về chiều giảm. Nhưng khi câu ba nối vào câu kết thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Ấy là sự từng trải tăng lên là cây đã trưởng thành. Nhờ lối viết nén mấy chữ "bớt bất ngờ" như một nút buộc câu thơ bỗng có "cú pháp dính" lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây) hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai nhưng xem chừng cái vế sau mới là chốt hạ. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm thậm chí được nhu hoá. Có thể nói đây là lối kết theo kiểu "đảo phách". Một cú đảo phách ngoạn mục. Bởi đảo mà cứ như không.
*
Sang thu là bài thơ tinh tế. Điều này khỏi bàn thêm. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Nào những hương ổi phả vào trong gió se nào sương chùng chình qua ngõ rồi thì sông được lúc dềnh dàng... xem ra thi ảnh nào cũng tài hoa. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. Làm xác định cái không xác định khiến cái vô hình thành hữu hình làm định dạng cái vốn mơ hồ là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. Thế mà thi ảnh lại mới hình sắc lại gợi. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách "vắt nửa mình" kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có thật mà không thật. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy !

Mà đâu chỉ trong quan sát ở thi phẩm này Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều có chậm có nhanh. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã ; Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa". Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. Đọc Hữu Thỉnh có một chất rất dễ nhận : dân gian. Còn có một chất khác luôn cặp kè mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên anh không chỉ có chiêu này. Ở Sang Thu cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật trong cách kiệm lời mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã ; Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Có lẽ khi đọc các cặp ấy tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức chỉ lúc chợt ngoái lại thì mới vỡ lẽ: ồ ra là phép đối ! Thế là nhuyễn là tinh chứ sao !
Tuy nhiên đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết.
Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. Nhờ đó thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn.
Sang thu đa nghĩa vì ít nhất có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu đời sống sang thu và đời người sang thu. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Không. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. Tranh thì tĩnh phim mới động. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động chuyển động biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. Nhưng nếu chỉ thế thôi Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Đồng thời cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình tinh thần của thế hệ mình.
Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. Tất nhiên những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình sông dềnh dàng chim vội vã v.v... Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Chữ "đứng tuổi" bật sáng phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. Nó đâu chỉ nói cây mà còn nói người. Nhân hoá cây là bề nổi giấu người vào cây là bề sâu. Tự dưng chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời.
Có thể thấy rõ hơn nữa khi nhìn trong tương quan khác.

Cảm thụ nghệ thuật căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Nhưng chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi dễ làm nghèo nghệ thuật. Trong thực tế thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Ví như hoàn cảnh sáng tác . Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977 ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. Bấy giờ cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Nghĩa là đời sống cũng vừa sang thu. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy tự dưng chúng ta thấy các hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. Nếu ở khổ đầu thơ còn nặng về tạo vật thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. Hèn chi cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. "Chùng chình" còn dễ ưa "dềnh dàng" đã khó ưa. "Dềnh dàng" đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ "được lúc" gắn với cái thói "dềnh dàng" ấy của sông. Cũng như thế Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng tuy đã sang thu nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Đồng thời bao tủi sầu yếu đuối bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Bước sang thu hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Không có chữ "đứng tuổi" cứ như lạc hệ thống này mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. Không có nó ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém.
Một cái kết quá là khôn ngoan.
Thì ra mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ?
Từ thơ tạo vật Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời !
Chu Văn Sơn

Phân tích bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh   (Bài tham khảo)

Có lẽ vì nàng thu "thơ mộng muôn thủa" luôn có xu hướng "rủ rê" ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương...

Nói về đề tài mùa thu một tác giả đã nhận định: "Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy tôi mới thấy đề tài này thật là khó" Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu "thơ mộng muôn thủa" luôn có xu hướng "rủ rê" ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương...

"Sang thu" của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ) Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến) Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)... Nhưng nó vẫn có cái hay cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng nhạy cảm khi mùa thu tới.

Ngay từ tiêu đề tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. Đó không phải là chính thu khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao không phải cuối thu khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió...Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút "chớm" mỏng manh đó.

Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. Có hương ổi mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Nhưng hương ổi "thơm" như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Có gió nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. Se gợi một động thái hơn là gợi một cảm giác. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ)... Dòng sông cánh chim hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc liễu ngô đồng hay màu trời sắc nước...Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: "phả" "se" "chùng chình" "dềnh dàng" "bắt đầu vội vã" "vắt nửa mình"... "Chùng chình" trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. Song trên hết hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ gió se lại bởi chút lạnh xa xăm những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp...

Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: "Bỗng nhận ra hương ổi"; "Hình như thu đã về"...

Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó:

Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi

Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần không còn dữ dội nữa. Sang thu tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ cường độ... Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông được gọi một cách hình ảnh là "hàng cây đứng tuổi". Chính các từ "bất ngờ" "đứng tuổi" khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. Nắng mưa sấm chớp... hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.

Không hiểu sao khi đọc bài thơ này tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi bởi ngõ xóm thân quen ấy. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc suy nghĩ tự nhiên của tác giả. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca!

More...

Phân tích: Bài thơ "Ánh trăng" của Nguyễn Duy

By WwwKimSonGiang

"Cử đầu vọng minh nguyệt
 Đê đầu tư cố hương."

Giữa miền đất xa lạ dẫu vẫn nằm trên đất nước Trung Hoa. Song Lý Bạch vẫn cảm thấy cô đơn nhìn vầng trăng sáng nhớ đến quê hương mình . Vị thi tiên như muốn níu lấy chút gì thân quen để sưởi ấm tâm hồn người lữ khách.
Cũng từ vầng trăng duy nhất trên đời ấy bao thi nhân đã tìm được cảm hứng cho riêng mình. Bạn chớ có hỏi tại sao cũng chỉ ánh trăng đó thôi mà con người có thể nhìn thấy nhiều điều khác nhau đến vậy.Với bài thơ "Trăng sáng " tiếng thơ Nguyễn Duy như thủ thỉ tâm tình kể lại cho người đọc nghe về người bạn thân quen người đã cùng đi suốt cuộc hành trình tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành của tác giả

"Hồi nhỏ sống ở đồng
Với sông rồi với bể
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỷ."

Trải qua bao thăng trầm của thời gian hình ảnh vầng trăng như đã là điều gì không thể thiếu gắn bó giao cảm với lòng người. Đã bao lâu rồi vầng trăng -ánh sáng huyền diệu kia níu chân khách bộ hành? Đã bao lâu rồi ánh trăng làm mê đắm tâm hồn thi nhân đến nỗi nhà thơ đánh rơi tim mình vào vầng trăng lẻ bóng?

"Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa."

..."Ngỡ không bao giờ quên..." Câu thơ như ngập chìm trong nuối tiếc chơi vơi mạch cảm xúc kia vẫn tiếp tục xuôi theo dòng chảy mãi như mạch ngầm ký ức đã bị bỏ quên nơi cuối trời xa lạ:

"Từ ngày về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường."

Lời thơ như nghèn nghẹn như đã bị ghìm nén như tác giả đang muốn ghìm giữ như bung ra những dao động rất thực trong hồn. Nhà thơ viết dòng thơ thản nhiên song vì sao ngôn từ vẫn xót xa là thế? Sức hấp dẫn của bài thơ có lẽ là vậy ! Chỉ có tấm lòng mới đủ sức níu kéo những tấm lòng. Nhà thơ Vũ Quần Phương từng nói :" Chất thơ tinh tế chỉ đậu hờ vào chữ tay phàm nhúng vào dễ bay mất nói chi mổ xẻ với phân tích."

Những dư âm -kỷ niệm về ánh trăng hẳn sẽ trôi qua nếu bất ngờ từ dòng thơ sau không được gợi mở :

"Thình lình đèn điện tắt
Phòng buyn đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn."

Cuộc hội ngộ tình cờ như đánh thức điều gì sâu tận tâm hồn người bạn cũ để nỗi niềm chan chứa trải dọc cả câu thơ :

"Ngửa mặt nhìn lên trời
Có cái gì rưng rưng?
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng..."

"Ngửa mặt "-hành động ấy không chỉ là hành động ngắm trăng. Dường như Nguyễn Duy muốn nhìn thật lâu gương mặt người bạn tri kỷ năm xưa sau một thời gian dài không gặp gỡ như muốn khắc sâu hình bóng kẻ tri âm dạo nào vào tiềm thức . Nửa như để tìm lại - nửa như không muốn quên đi. Lương tâm thi nhân bỗng lên tiếng về sự lãng quên của mình những ăn năn không bật được thành lời đã khiến dòng thơ như dài thêm vì day dứt khôn nguôi :

"Trăng cứ tròn vằnh vạch
Kể chi người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình."

Cái "giật mình " đáng trân trọng và đầy ý nghĩa khép lại bài thơ trong muôn trùng suy tưởng từ người đọc. Vầng trăng kia lặng im không nói không oán trách vầng trăng cứ lặng lẽ tròn mà khiến hồn người sực tỉnh và trở về với chính mình tìm lại những dấu yêu xa xưa đã bỏ quên vào dĩ vãng. Xin bạn đừng hỏi rằng nếu như không vì mất điện liệu nhà thơ có thể có được sự thức tỉnh giữa phồn hoa đô hội và nhận thấy một ánh trăng tri kỷ hay không? Bởi lẽ vầng trăng trước khi ta được sinh ra cũng cứ khuyết lại tròn khi ta tồn tại hay sau này trở thành cát bụi trăng vẫn cứ tròn lại khuyết vật thôi. Thế mà cái điều hiển nhiên có tính quy luật ấy lại khiến tác giả " giật mình " ...

Những điều tưởng chừng như phi lý khi đưa vào tâm trạng con người để giải thích bỗng trở thành có nghĩa. Ánh trăng như đã xuyên suốt cả bài thơ bổng trầm trải dọc theo chiều sâu cảm xúc nơi Nguyễn Duy : lúc lắng chìm khi trăn trở phút suy tư...

Bạn có thấy không? Giữa nhịp sống ồn ào dòng đời cuộn chảy ;Vẫn còn trong trẻo trên cao -vầng trăng tròn vành vạch ; Vẫn còn vương vấn đâu đây ánh sáng trong mát nhẹ nhàng im lắng trong tâm hồn của mỗi chúng ta...
Nguồn : Lê Bá Duy

More...

Tìm hiểu "Từ ấy của Tố Hữu!

By WwwKimSonGiang

I. Tác giả Tố Hữu:
- Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành
- Quê: Phù Lai Quảng Thọ Quảng Điền Thừa Thiên Huế
- Sinh ra ở một môi trường rất giàu truyền thống văn hoá (gia đình quê hương...) có ảnh hưởng sâu sắc đến hồn thơ Tố Hữu
- Cuộc đời: Giác ngộ cách mạng năm 17 tuổi (1937). Năm 1938 kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành nhà thơ cộng sản trẻ tuổi
- Sự nghiệp sáng tác:
Luôn gắn liền và song hành với những chặng đường Cách mạng Việt Nam
Các tập thơ:
Từ ấy (1937 - 1946)
Việt Bắc (1947 - 1955)
Gió lộng (1955 - 1961)
Ra trận ( 1962 - 1972)
Máu và hoa (1972 - 1977)
Một tiếng đờn (1978 - 1992)
Ta với ta (1999)
- Đặc trưng thơ Tố Hữu:
Tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị
Mọi sự kiện vấn đề lớn của đời sống cách mạng lý tưởng chính trị những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật
Thể hiện lẽ sống lớn tình cảm lớn của người công dân người chiến sĩ cách mạng đối với Đảng với Tổ quốc với nhân dân với Bác Hồ
Cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi
Nghệ thuật thơ: đậm đà tính dân tộc
II. Bài thơ
a) Xuất xứ bài thơ Từ ấy
In trong tập Từ ấy - tập thơ đầu của Tố Hữu. Gồm ba phần: Máu lửa Xiềng xích Giải phóng (1937-1946).
Trích từ phần I: Máu lửa mang tiêu đề của toàn bộ tập thơ.
Văn học
7.1938
Tố Hữu
Từ ấy
(1937-1946)
Giải phóng
Xiềng xích
Máu lửa
Bài thơ có ý nghĩa mở đầu cho con đường Cách mạng con đường thi ca của Tố Hữu. Sau này trong bài Câu chuyện về thơ Tố Hữu viết: "Từ ấy là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám đôi mươi đi theo lý tưởng cao đẹp dám sống dám đấu tranh".
b) Bố cục
Bài thơ chia làm ba đoạn tương ứng với ba khổ:
Đoạn 1 Khổ thơ đầu: Niềm say mê mãnh liệt của nhà thơ khi đón nhận lý tưởng cách mạng
Đoạn 2 khổ hai nhận thức về lẽ sống của nhà thơ khi bắt gặp ánh sáng Cách mạng
Đoạn 3 khổ ba sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm nhà thơ
II. Đọc - hiểu văn bản
Khổ 1. Niềm say mê mãnh liệt của nhà thơ khi đón nhận lý tưởng cách mạng
"Từ ấy" là thời điểm người thanh niên yêu nước Tố Hữu giác ngộ cách mạng giác ngộ lý tưởng cộng sản (1937-1938).
Đang hoạt động tích cực trong Đoàn thanh niên cộng sản Huế.
Đây là mốc son đặc biệt quan trọng - mang tính bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp của Tố Hữu.
Tố Hữu viết: "Từ ấy là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám đôi mươi đi theo lý tưởng cao đẹp dám sống dám đấu tranh".(Câu chuyện về thơ)
bừng nắng hạ
Từ ấy màu sắc
mặt trời chân lý chói qua tim
rất đậm hương màu sắc
Hồn tôi vườn hoa lá + hương thơm
rộn tiếng chim âm thanh
- Những hình ảnh thơ đáng chú ý: "bừng nắng hạ" "mặt trời chân lý" "vườn hoa lá"
- Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ và so sánh trực tiếp:
+ "mặt trời chân lý": hình ảnh ẩn dụ. Chân lý của Đảng chính là nguồn sáng kỳ diệu soi đường cho mỗi số phận tựa như mặt trời toả ánh sáng hơi ấm và sức sống
- Các động từ mạnh:
+ "bừng" (ánh sáng phát ra đột ngột)
+ "chói" (ánh sáng có sức xuyên thấu mạnh)
+ "đậm" + "hương": màu sắc + hương vị -> kết hợp từ độc đáo
+ "rộn" -> âm thanh
-> nhấn mạnh ánh sáng của lý tưởng đã mở ra một chân trời mới của nhận thức tư tưởng và tình cảm
- So sánh: "hồn tôi" với "vườn hoa lá" ("đậm hương" "rộn tiếng chim"): Lý tưởng cộng sản đã làm cho thế giới tâm hồn con người tràn đầy sức sống và niềm yêu đời. Đây cũng là vẻ đẹp của hồn thơ Tố Hữu.
- Bút pháp nghệ thuật
Bút pháp tự sự
Bút pháp trữ tình
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
-Ý nghĩa:
Lẽ sống mới: là mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân với cái ta cộng đồng giữa bản thân nhà thơ với quần chúng nhân dân đặc biệt là những người lao động nghèo khổ
Chân lý muôn thủa: Mối quan hệ hữu cơ mật thiết giữa cá nhân và cộng đồng giữa thơ văn và cuộc đời. Con người muốn tồn tại được trong xã hội phải biết sống gắn bó với mọi người cũng như văn học phải bám rễ vào mảnh đất hiện thực cuộc sống.
- Ngôn từ thơ:
Động từ: "buộc": ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hoà với mọi người
"trang trải": tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời có khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh con người cụ thể
"khối đời": ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời (cái tôi chan hoà trong cái ta tạo thành khối sức mạnh cùng chung lý tưởng)
"gần gũi": Nhà thơ đã hoà nhập cá nhân mình với khối đời chung của nhân loại cần lao.
Khổ 3
Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ
con nhà
Tôi em vạn kiếp phôi pha
anh em nhỏ
- Cấu trúc câu: sử dụng biện pháp lặp: "đã là (con)" "là (em)" "là (anh)" vừa mang tính khẳng định tư thế của cá nhân trong lòng cộng đồng vừa diễn tả tình cảm thân thiết gắn bó
- Những cụm từ chỉ đối tượng mà nhà thơ gắn bó:
+ "vạn nhà": lực lượng quần chúng đông đảo
+ "vạn kiếp phôi pha": những kiếp sống mòn mỏi đáng thương. Những người sống cơ cực giãi dầu sương gió
+ "vạn đầu em nhỏ": là những em nhỏ sống lang thang bên xó chợ chân cầu
+ "cù bất cù bơ": bơ vơ không nơi nương tựa
-> tấm lòng đồng cảm sâu xa và tình thương yêu con người của nhà thơ.
- Sự chuyển biến về tình cảm: là biểu hiện sự giác ngộ lý tưởng cách mạng. Nhà thơ cảm nhận sâu sắc mình là một thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ -> tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng sự giao cảm của những trái tim.
- Từ ấy ý nghĩa mở đầu cho con đường cách mạng con đường thi ca của Tố Hữu.
- Tuyên ngôn về lẽ sống của người chiến sĩ cách mạng + tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ: gắn bó sâu sắc cuộc đời sự nghiệp của mình với quần chúng với nhân loại.
- Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng các biện pháp tu từ gợi cảm (ẩn dụ so sánh) và ngôn ngữ giàu nhạc điệu:"Tôi đã là con của vạn nhà..."
III. Luyện tập
Bài tập SGK
BT 1. Viết một đoạn văn nói lên cảm nghĩ của anh (chị) về khổ thơ mà mình cho là hay nhất trong bài Từ ấy
BT 2. Giải thích vì sao nhà thơ Chế Lan Viên viết: "Tất cả Tố Hữu thi pháp tuyên ngôn những yếu tố làm ra anh có thể tìm thấy trong tế bào này anh là nhà thơ của vạn nhà buộc lòng mình cùng nhân loại..." (Lời tựa tập Trăm bài thơ của Tố Hữu NXB Văn học Hà Nội 1987)
"thi pháp": là phương thức biểu hiện như dùng thể thơ truyền thống (thể thơ 7 chữ/ câu 4 câu/ khổ) hình ảnh nhịp điệu (nhịp thơ thay đổi theo cảm xúc từng câu từng khổ: 2/2/3 4/3 2/3/2 3/4 4/3 2/5 2/5 3/4...
"tuyên ngôn": là quan điểm nhận thức thể hiện tư tưởng sáng tác của nhà thơ: gắn bó cuộc đời và sự nghiệp thơ ca với quần chúng lao khổ phấn đấu vì hạnh phúc của đồng bào nhân loại
Tư liệu tham khảo
Thi pháp thơ Tố Hữu
(Trần Đình Sử)
Nguồn: Lê Bá Duy

More...

Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải

By WwwKimSonGiang

"Nếu là con chim chiếc lá
Con chim phải hót chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình."
(Tố Hữu)
Tố Hữu - nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải - đã viết trong bài "Một khúc ca xuân" những lời tâm niệm thật chân thành giản dị và tha thiết. Đó là "lặng lẽ dâng cho đời". Còn Thanh Hải khi viết bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" trước lúc ra đi không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam.
Sinh ra lớn lên hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào hoàn cảnh nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị chân thành yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc về cõi vĩnh hằng. Chính vì vậy nó bâng khuâng tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người yêu cuộc sống yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời.
Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu thiết tha và thanh thản không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời.


Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ:
"Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc.
Ơi con chim chiền chiện
Hót cho mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng".

Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng bất ngờ không gian như tươi tắn hơn trẻ trung hơn thánh thoát hơn:
"Ơi con chim chiền chiện
Hót cho mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng".
Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế. Một từ "Ơi" đặt ở đầu câu một từ "chi" đứng sau động từ "hát" đã đưa cách nói ngọt ngào thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ. Từ "giọt" được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là "giọt nắng bên thềm" giọt mưa xuân giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền chiện. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. Một từ "hứng" cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời của sông của chim muông hoa lá; đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời.
Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống nhân dân và đất nước. Với hình ảnh "người cầm súng" và "người ra đồng" biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm:
"Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng.
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trãi dài nương mạ.
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao..."
Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu.
Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên sẽ phát triển sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ.
Sức sống của "mùa xuân đất nước" còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp:
"Đất nước bốn ngàn năm
Vất và vào gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước"
Đó chính là lòng tự hào lạc quan tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước dân tộc. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người.
Từ cảm xúc của thiên nhiên đất nước mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết:
"Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa.
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến"
Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót một cành hoa để hoà nhập vào "mùa xuân lớn" của đất nước góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng "mùa xuân nho nhỏ" nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành giản dị và tha thiết - xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là "một nốt trầm xao xuyến".
Điều tâm niệm của tác giả: "lặng lẽ dâng cho đời" chính là khát vọng chung của mọi người ở mọi lứa tuổi chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước cho cuộc đời bởi vậy xuất phát từ tiếng lòng thiết tha nhỏ nhẹ chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau:
"Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc".
Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương đất nước mến yêu của chính mình. Già - cống hiến tuổi già trẻ - cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình.

Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. "Dù là tuổi hai mươi" khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. "Một mùa xuân nho nhỏ" cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc chuẩn bị ra đi mãi mãi.
Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai Nam Bình mênh mang tha thiết là lời ngợi ca đất nước biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương đất nước một câu chân tình thắm thiết
"Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai Nam Bình
Nước non ngàn dặm tình
Nước non ngàn dặm mình
Nhịp phách tiền đất Huế"
Đánh giá chung
Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự luôn chứa chan tình cảm ước nguyện sâu lắng nhất... và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. Ông đã giải bày tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau hiểu nhau và giải bày cho nhau.

Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết giàu hình ảnh nhạc điệu cất trúc thơ chặt chẽ giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng cảm xúc của tác giả. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng "nhân sinh" vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành thiết tha bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước nguyện làm một "mùa xuân" nghĩa là sống đẹp sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là "một mùa xuân nho nhỏ" góp vào "mùa xuân lớn" của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về "mùa xuân nho nhỏ" nhưng nói được tình cảm lớn những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta.
Nguồn: Lê Bá Duy

More...

Tóm tắt cốt truyện một số tác phẩm văn xuôi lớp 9 ( Thầy Lê Bá Duy)

By WwwKimSonGiang

Dưới đây là một số tóm tắt cốt truyện tác phẩm văn xuôi lớp 9 nhắm giúp các em tham khảo...   TÓM TẮT CỐT TRUYỆN MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 9

1-NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (NGUYỄN DỮ)

Ngày xưa có chàng Trương Sinh vừa cưói vợ xong phải đi lính để lại người mẹ già và người vợ trẻ là Vũ Thị Thiết (còn gọi là Vũ Nuơng) đang mang thai. Vũ Nuơng ở nhà sinh con nuôi con phụng dưỡng mẹ chồng rất chu tất. Khi mẹ Truơng Sinh ốm mất Vũ Nuơng làm ma chay chu đáo.

Giặc tan Truơng Sinh về nhà nghe lời con trẻ nghi vợ không chung thuỷ. Vũ Nương oan tủi gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn . Một đêm Truơng Sinh cùng con trai ngồi bên đèn đứa con chỉ chiếc bóng trên tường bảo đó là "cha" của mình là người hay đến hằng đêm . Lúc đó Truơng Sinh mới hiểu vợ bị hàm oan.

Phan Lang- người cùng làng với Vũ Nương do cứu mạng thần rùa Linh Phi vợ vua Nam Hải nên khi chạy loạn chết đuối ở biển đã được Linh Phi cứu sống để tạ ơn- tình cờ gặp Vũ nuơng dưới thuỷ cung . Khi Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gởi chiếc hoa vàng và lời nhắn cho Truơng Sinh. Truơng Sinh liền lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang. Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa đứng giữa dòng lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất

2- LÀNG (KIM LÂN)

Ông Hai là người nông dân tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình. Do yêu cầu của uỷ ban kháng chiến ông Hai phải cùng gia đình tản cư lên làng Thắng. Xa làng ông nhớ làng da diết nên thường kể về làng mình một cách đầy tự hào Nhưng rồi một hôm một tin đồn quái ác- làng Chợ Dầu làm Việt gian theo Tây- khiến ông Hai vô cùng buồn khổ tủi nhục suốt mấy hôm không dám bước chân ra ngoài chỉ biết tâm sự với thằng con út. Ông Hai nhất định không muốn quay về làng vì theo ông : "làng thì yêu thật nhưng làng đã theo Tây rồi thì phải thù".

Sau đó có người ở làng lên kể chuyện chiến đấu anh dũng của làng mình cải chính lại tin đồn thất thiệt đó ông hết sức vui mừng vì biết làng mình không theo giặc ông đã hồ hởi đi khoe tin này cho mọi người dù nhà ông đã bị Tây đốt cháy.

3- LẶNG LẼ SA PA ( NGUYỄN THÀNH LONG)

Câu chuyện xảy ra ở Sa Pa tỉnh Lào Cai vào năm 1970. Trên chuyến xe khách chạy từ thị xã Lào Cai đi Lai Châu qua nơi nghỉ mát nổi tiếng ở Sa Pa có một hoạ sĩ già và một cô kĩ sư nông nghiệp trẻ vừa ra trường lên Lai Châu nhận công tác. Xe chạy qua thị trấn Sa Pa đến đỉnh Yên Sơn thì dừng lại nghỉ 30 phút. Trong thời gian nghỉ này ông hoạ sĩ gìa cô kĩ sư trẻ bác lái xe và anh thanh niên làm việc ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn Sa Pa đã gặp gỡ nhau. Và anh thanh niên đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người hoạ sĩ già và cô kĩ sư trẻ. Hoàn cảnh sống và làm việc của anh; cách sống suy nghĩ và tình cảm của anh đối với mọi người đã làm cho người hoạ sĩ già cảm nhận được rằng: Trong cái lặng im của Sa Pa ... có những người làm việc và lo nghĩ cho đất nước.

4- CHIẾC LƯỢC NGÀ (NGUYỄN QUANG SÁNG)

Sau nhiều năm xa cách vợ con ông Sáu được về nhà nghỉ phép. Thế nhưng con gái ông là bé Thu lại không nhận ra cha mình do có vết sẹo mới trên mặt khiến ông không giống như trong ảnh. Trong ba ngày nghỉ phép ngắn ngủi đó ông ở nhà suốt để vỗ về con và cho con cái cảm giác có cha ở bên. Thế nhưng bé Thu không chịu nhận cha càng ngày càng ương bướng thậm chí lúc được cha gắp cho cái trứng cá bé đã hất ra. Ông Sáu nổi giận đánh cho. Bé buồn chạy sang nhà bà kể hết mọi chuyện cho bà. Được bà giải thích bé hiểu ra và trong giây phút cuối cùng trước khi cha trở lại chiến trường bé đã nhận cha trong sự xúc động của mọi người và bé đã vòi cha mua cho mình một chiếc lược.

Xa con ông Sáu nhớ mãi lời dặn của con. Tình cờ một lần cả tiểu đội săn được con voi anh cưa lấy khúc ngà và ngày ngày tỉ mẩn làm cho con gái cây lược. Ngày ngày ông đem chiếc lược ra ngắm cho đỡ nhớ. Trước lúc hy sinh ông Sáu và giao lại cây lược cho một người đồng đội nhờ chuyển cho Thu.

Chiếc lược ngà được người đồng đội ấy trao lại cho Thu một cách tình cờ khi cô làm giao liên dẫn đường cho đồng chí ấy trong kháng chiến chống Mĩ

5- NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI (LÊ MINH KHUÊ)

Truyện kể về ba nhân vật nữ TNXP- làm thành một tổ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Họ gồm có Nho Thao và Phương Định-người kể chuyện. Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom đo khối lượng đất đá phải san lấp đánh dấu các trái bom chưa nổ và phá bom. Công việc hết sức nguy hiểm nhưng cả ba cô gái vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ những những giây phút thanh thản mơ mộng. Và đặc biệt họ sống gắn bó yêu thương nhau trong tình đồng chí đồng đội. Trong một lần phá bom Nho đã bị thương và được sự chăm sóc lo lắng chu đáo của hai người đồng đội.

6- BẾN QUÊ (NGUYỄN MINH CHÂU)

Nhĩ - nhân vật chính của truyện - từng đi khắp nơi trên trái đất cuối đời bị lâm bệnh hiểm nghèo đến nỗi không thể tự chuyển dịch lấy vài mươi phân trên chiếc phản gỗ kê bên cửa sổ. Nhưng chính lúc này Nhĩ phát hiện ra bãi bồi bên kia sông của quê hương mình thật đẹp thật quyến rũ. Và cũng phải đến lúc này Nhĩ mới cảm nhận được hết sự tần tảo vất vả tình yêu thương và đức hi sinh thầm lặng của vợ mình là chị Liên. Trong lòng anh bỗng trào dâng một khao khát: được đặt chân một lần lên cái bờ bãi bên kia sông. Anh nhờ cậu con trai thực hiện giùm mình ước mơ ấy . Đứa con không hiểu ý bố nên nhận lời một cách miễn cưỡng. Trên đường đi cậu ta lại sa vào đám chơi phá cờ trên hè phố và để lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Từ tình huống này Nhĩ chiêm nghiệm ra được cái quy luật phổ biến của đời người :"Con người ta trên đời thật khó tránh khỏi những điều vòng vèo chùng chình trong cuộc sống.."

Cuối truyện khi thấy con đó ngang chạm mũi vào bờ bên này Nhĩ thu hết tàn lực cuối cùng của mình để đu mình nhô ra ngoài cửa sổ giơ cánh tay gầy guộc ra khoát khoát y như đang khẩn thiết thúc giục .

7- CỐ HƯƠNG (LỖ TẤN)

Truyện kể lại chuyến về quê lần cuối cùng của nhân vật người kể chuyện (tôi) để dọn nhà đi nơi khác làm ăn sinh sống. Nhân vật tôi đau xót nhạn ra những thay đổi ghê gớm của làng quê đặc biệt là sự tàn tạ đần độn của Nhuận Thổ người bạn thân thiết của "tôi" thời thơ ấu. Từ đó người kể chuyện đã lật xới lên những vấn đề bức xúc của xã hội Trung Hoa trì trệ lúc bấy giờ. Từ đó ông chỉ cho mọi người thấy xã hội phân chia giai cấp là do con người tạo ra. Để không còn thảm cảnh ấy nữa nhất thiết phải xây dựng một xã hội mới trong đó con người với con người là bình đẳng.

Khi cùng gia đình tạm biệt làng quê cũ nhân vật tôi hi vọng mọi người sẽ có một tương lai sáng sủa hơn.

More...